Chữa trị và chăm sóc trẻ bị bệnh

lựa chọn (phù não), tổn thương khớp thần kinh, tác nghẽn động mạch não, chất màu trắng xung quanh não thất bị mềm ra, tổn thương khu trạng bàng thì đại não.

1/ Trẻ bị bệnh thường có bệnh sử bị ngạt khi sinh hoặc đẻ non

2/ Biểu hiện lâm sàng

(1) Trạng thái ý thức: trường hợp nhẹ thì không có dấu hiệu rõ rệt về trỏ ngại ý thức, hoặc biểu hiện trong thời gian đầu sau khi sinh là thích ngủ mang tính tạm thời. Mức độ trung bình thì 50% trẻ bị co giật rõ rệt vào ngày thứ 2-3 sau khi sinh. Trường hợp bệnh nặng có thể bị hôn mê hoặc thường kèm theo co giật sau khi sinh, tình hình bệnh diễn biến theo chiều hướng xấu đi, khó dự đoán trước được.

(2) Khả năng phản ứng: nếu bị nhẹ trẻ mắc bệnh sẽ ở trạng thái quá hưng phấn; nặng hơn thì thường là ở trạng thái bị ức chế.

(3) Sức căng cơ: trẻ bị nhẹ thì sức căng cơ của trẻ có thể tăng cao; nặng hơn thì sức căng cơ giảm sút hoặc rất yếu.

(4) Co giật: trẻ bị mắc bệnh ở mức độ trung và nặng, đặc biệt là trẻ bị tắc nghẽn động mạch não thường bị co giật từng cơn. Với trẻ bệnh nặng dẫn đến tổn thương não thì thường thấy co giật từng cơn, đồng thời các chi bị cong lại.

3/ Các triệu chứng đi kèm theo: khi ngạt thở thường kèm theo các bệnh như phổi không nở, viêm phổi hít vào, phổi màng trong suốt… cần quan sát và kiểm tra chặt chẽ.

4/ Chẩn đoán qua hình ảnh: Bệnh tổn thương não do thiếu ôxy và thiếu máu ở trẻ mối sinh (HID) trong chụp CT cắt lớp có biểu hiện ra là mật độ giảm thấp. Nếu siêu âm B thì âm thanh vong tăng cường. Ngoài tổn thương khu trạng bàng thỉ đại não ra, chụp CT và siêu âm B đều giúp chân đoán rất tốt về các loại bệnh HID. Siêu âm B chẩn đoán phù não mức độ nhẹ nhạy hơn CT, khi chẩn đoán thích hợp nhất là trong tuần đầu tiên sau khi sinh, sau đó đa số phù não được cải thiện hoặc thay đổi hậu di chứng . Với trẻ dẻ non thì ở nghạch diệp và châm diệp, với trẻ đù tháng thì ô ngạch diệp đều ở  mật độ thấp thể hiện trẻ ỏ trạng thái phát trẻ ở trạng thái phát triển bình thường, CT thường chân đoán nhầm là phù não, cần chú ý dể phân biệt.

Chữa trị và chăm sóc trẻ bị bệnh cần chú ý nhưng nội dung sau đây

(1) Chăm sóc và chữa trị thông thường: chú ý giữ ấm. cung cấp đủ oxy và đường glucozơ, duy trì huyết áp và khí huyết, bình thường, duy trì cân bằng axit và kiểm, hạn chê lượng dịch,

(2) Chống co giật: thường dùng thuốc Phenol barbitaỊ liều lượng 20-40mg/ lOOOg trọng lượng cơ thể, lượng duy trì là 5mg/ lOOOg trọng lượng cơ thể mỗi ngày, dùng trong 5-7 ngầy. Khi chưa thể kiểm soát được chứng co giật thì có thê dùng Phenytoin Sodium 20mg/ lOOOg trọng lượng cơ thể tiêm tỉnh mạch.

(3) Giảm áp hộp sọ: Thường dùng Manitol 0.25g/ lOOQg trọng lượng cơ thể, cách 6 tiếng dùng một lần, ngoài ra, cũng cố thể dùng kết hợp Dexamethasonum 0.5-lmg/ lOOOg trọng lượng cơ thể, cách 6 tiếng, dùng một lần, dùng trong 2 ngày.

VI- Những điều cần tránh khi nuôi trẻ nhỏ

Nuôi dưỡng trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ một cách khoa học là nguyện vọng chung của bất cứ những người làm cha làm mẹ nào, đó cũng là một đảm bảo cơ bản của thuyết ưu sinh ưu dục đặc biệt là trong giai đoạn trẻ mới sinh, các ông bố bà mọ trẻ tuổi càng cần phải chú ý tìm hiểu em bé của mình

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *