Đi ngoài ra phân như nước cấp tính

khuẩn trong nhà trẻ lên đến trên 25%. Sau khi xâm nhập vào cơ thể, khuẩn que này có thể gây ra các chứng bệnh như viêm màng não, viêm phổi, chứng nhiễm trùng máu, viêm tủy xương, viêm bọc tim, viêm nắp’thanh quản, viêm các tổ chức to ong… Khuẩn que này là một trong những vi khuẩn gây bệnh chủ yếu dẫn đến những bệnh nhiễm vi khuẩn nặng và tử vong ỏ trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. ở Việt Nam chủ yếu gây ra viêm phổi. Tỷ lệ phát bệnh là 10.4/ 100000 người. Tỷ lệ tử vong ỏ trẻ mắc bệnh trong điểu kiện có sử dụng thuốc kháng sinh vẫn cao đạt 20%. Do việc lạm dụng kháng sinh và tính kháng thuốc của các vi khuẩn, dẫn đến tỷ lệ khỏi bệnh thấp và các chứng bệnh phát kèm theo tăng lên. Do vậy, sử dụng vaccine phòng bệnh là biện pháp kinh tê và hữu hiệu nhất. Đối tượng tiêm chủng: trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ từ 2 tháng sau khi sinh đến lúc 5 tuổi. Phản ứng tiêm chủng: cục bộ có sưng đỏ hoặc sốt toàn thân. Khi tiêm cùng vói vaccine phòng bệnh bạch hầu, ho gà, uốn ván, phản ứng cục bộ và phát sốt sẽ nặng hơn là tiêm riêng một loại vaccine này.

17. Chăm sóc bệnh tả ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ

Bệnh tả là bệnh do nhiều nguyên nhân và nhiều nhân tố gây ra, tỷ lệ phát bệnh ỏ trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ từ 6 tháng đến 2 tuổi khá cao.

1/ Căn cứ chẩn đoán:

(1) Hình dạng của phân thay đổi, phân lỏng, giống như nước, nhầy nhão hoặc có huyết mủ.

(2) Số lần đại tiện tăng nhiều hơn bình thường

(2) Phân loại bệnh trình

(1) Tháo dạ cấp tính, thời gian bệnh trong 2 tuần

(2) Tháo dạ kéo dài, thòi gian từ 2 tuần đến 2 tháng.

(3) Tháo dạ mạn tính, thời gian trên 2 tháng.

3/ Phân loại bệnh tình

(1) Loại nhẹ: không mất nước, không có triệu chửng trúng độc.

(2) Loại trung: Có dấu hiệu mất nước và trúng độc ở mức độ nhẹ.

(3) Loại nặng: Mất nưôc nặng hoặc có hiện tượng trúng độc rõ rệt (bồn chồn, tinh thần tê liệt, thích ngủ, sắc mặt trắng bệch, sốt cao hoặc nhiệt độ cơ thể không tàng, sô tê bào bạch cầu tăng cao rõ rệt…).

4/ Nguyên nhân gây bệnh: chia thành hai loại: viêm nhiễm và không viêm nhiễm, trước khi chẩn đoán xác định rõ nguyên nhân gọi là bệnh tháo dạ. Chẩn đoán theo nguyên nhân bệnh, như viêm ruột khuẩn Salmonelia Typhimurium, viêm ruột virus Reoviridae.

Tháo dạ không do viêm nhiễm có thể căn cứ vào bệnh sử, triệu chứng và phân tích kiểm tra, chẩn đoán bệnh tháo dạ triệu chứng của bệnh, tháo dạ dị ứng, tháo dạ do loét thủng , tháo dạ gan hóa hepatin

5/ Chẩn đoán lâm sàng: Căn cứ vào thòi gian mắc bệnh, hình dạng của phân, những dấu hiệu thu được khi quan sát phân bằng mắt thường và soi dưỏi kính hiển vi, mùa phát bệnh, độ tuổi mắc bệnh, và tình hình dịch bệnh, để đưa ra chẩn đoán nhiều khả năng nhất.

(1) Đi ngoài ra phân như nước cấp tính: thường là do virus Reoviridae hoặc vi khuẩn ETEC (Enterotoxingenic E.coli) gây ra. Đặc biệt là trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ dưối 2 tuổi, phát bệnh vào mùa thu và mùa đông thì khả năng nhiễm virus viêm ruột Reoviridae là rất lốn, phát bệnh vào mùa hè thì có khả năng mắc phải viêm ruột vi khuẩn ETEC.

(2) Phân có dạng dịch nhầy hoặc có mủ máu: Ngoài lị trực khuẩn ra, còn cần nghĩ tôi nhiễm vi khuẩn ELEC

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *