Bệnh thiếu máu dinh dưỡng

(2) Phòng tránh viêm nhiễm có thể sử đụng kháng sinh

(3) Trị liệu băng hormone: sử dụng phướng phấp trị liệu thời gian vừa và thòi gian dài. Hormone : mỗi ngày dùng 1.5-2 mg cho mỗi lOOOg trọng lượng cơ thể, lượng lớn nhất của một ngày không vượt quá 60mg, uống làm 3-4 lần, uống trong thời gian 4-8 tuần hoặc tiếp 2-3 tuần sau khi tiểu dạm cho kết quả âm tính, chuyển sang liêu lượng 2mg mỗi ngày cho mỗi lOOOg trọng lượng cơ thể, uống cách ngày vào buổi sáng, sau 4 tuần thì cứ 2-4 tuần lại giảm 5-10mg một lần, tổng thời gian chữa trị là 6 tháng, đây là cách chữa trị trong thòi gian vừa. Trong thòi gian dài: lúc đầu cũng giềng nhơ cách chữa trị trong thời gian vừa đã giới thiệu tròn đầy, sau 4 tuần uống cách ngày thì cứ 2-4 tuần giảm 2.5-5mg một lần tổng thòi gian chữa trị khoảng 9 tháng.

(4) Chữa trị chứng bệnh thận khó chữa. Bệnh thận khó chữa có những đặc trưng sau:

<3> Nhờn thuốc khi chữa trị bằng hormone, Phải uống l .5-2mg mỗi ngày cho mỗi lOOOg trọng lượng cơ thể, sau 8 tuần chữa trị đúng cách vẫn không thấy có hiệu quả.

© Tái phát lặp lại nhiều lần: Chữa trị bằng hormon* Pred, tái phát lặp lại 2 lần trong vòng 6 tháng sau phản ứng lận đầu hoặc 3 lần trong vòng 1 năm

® ỷ lại vào kích tố, khi ngừng kích tố hoặc gỉam lượng thì bệnh lại tái phát hoặc lặp lại sau 14 ngày, tái phát lặp lại trên 2 lần.

Sử dụng kết hợp với thuốc ức chế miễn dịch vaceine, trơng quá trình điều trị bằng Pred, sử dụng thêm CyclophosphlVmkte -CTX, kết hợp với sử dụng thuốc Đông y trong điều trị.

14. Chăm sóc bệnh thiếu máu dinh dưỡng

Thiếu máu dinh dưỡng thưòng gặp ỏ trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ dưới 2 tuổi, do thiếu vật chất tạo máu gây ra, về mặt lần

sàng có thể chín thành thiếu máu tiểu tê bào dinh dưỡng (thiêu sắt) và thiếu mấu đụi Lố bào dinh dưỡng (đại tê bào).

1/ Thiếu máu tiểu tế bào dinh dưỡng: thường gặp ỏ trẻ sơ sinh từ 6 tháng đếốn 1 tuổi, trẻ đẻ non, trẻ nhẹ cân, được chủ yếu nuôi bàng sữa bò vồ trong thời gian dài không cho trẻ ăn thêm hoặc cho ăn thêm ít thức ăn bổ sung, hoặc bị nhiễm bệnh nhiều lần, đặc biệt là các bệnh có tỷ lệ mắc bệnh cao ở trẻ nhỏ như viêm đường ruột. Trẻ từ lúc sinh ra đên khi 1 tuổi có tốc độ sinh trưởng nhanh, dung lượng máu tăng 2 lần, tổng lượng hemoglobin tăng 1 lần, do đó nhu cầu về sắt nhiều hòn, mỗi ngày cần tới 8-15mg nguyên tô” sắt mới có thể đảm bảo cho nhu cầu sinh trưởng cũng như nhu cầu tiêu hao năng lượng của trẻ; nếu lượng nguyên tố sắt cung cấp không đủ sẽ dẫn đến hiện tượng thiếu máu. Trẻ lớn hơn một chút thường do mắc bệnh ký sinh trùng (bệnh giun móc) hoặc mất máu mạn tính (trong ruột có cục thịt) gây ra.

Thiếu máu tiểu tế bào dinh dưỡng phát bệnh chậm, thiếu máu ỏ mức độ nhẹ không thấy xuất hiện triệu chứng bệnh, vì thế, bệnh thường bị xem nhẹ. Trẻ có tiền sử bệnh thiếu máu rõ rệt thường sắc mặt, niêm mạc, móng tay móng chân có màu trắng bệch, cảm giác ăn uống kém, trong người bồn chồn, uể oải, mệt mỏi, sức đề kháng yếu, dễ bị nhiễm bệnh trở lại nhiều lẫn; trẻ bị nặng tim bị to ra, có tạp âm, gan, lá lách, hạch bạch huyết thưòng bị sưng nhẹ.

(1) Kiểm tra trong phòng thí nghiệm có thể thấy:

(D Hình ảnh: hình ảnh điển hình của máu là sắc tô” tiểu tê bào thấp. Lượng hemoglobin trong máu giảm rõ rệt và nhiều hơn lượng tê bào hồng cầu giảm. Lấy mẫu máu trên miếng kính thấy đa số tế bào hồng cầu là tê bào hồng cầu bình thường nhỏ, hình thái kích thưóc không đồng nhất. Vùng trắng ở giữa lan rộng, dung tích bình quân của tế bào hồng

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *