Cuộc kháng chiến trường kì

Tối tối. tôi được anh Trần Duy Hung (ở ủy ban hành chính thành phố) cho một chiếc xe con đến đón, đưa về một căn gác nhỏ dưới phố Khâm Thiên, tạm lánh khỏi khu vực dễ bị bọn Pháp khiêu khích,
Chiều 17-12-1946, mổ xong một ca, đang rửa tay, thay áo, tôi nhận được lệnh trên : tình
hình hít sức nghiêm trọng, phải rời ngay khỏi Hà Nội.
Tình hình hết sức nghiêm trọng” – đó là điều tôi đã nghe. Nhưng, ngay phút này đây, phải
giã từ Hà Nội, phải rời bỏ cuộc sống đô thành đầy đủ tiện nghi, mang theo cả vợ con, đi đến
một vùng quê xa xôi hẻo lánh, thiếu thốn trăm bề, thì quả là… một thử thách tôi chưa từng biết ! Cuộc sống gia đình rồi đây sẽ ra sao ? Và công việc ? ở thôn quê, làm thế nào có được phòng mổ đảm bảo vô trùng ? Trường y có còn tíếp tục giảng dạy được nữa không ? Lấy đâu ra sách vở, phòng thí nghiệm, phòng xét nghiệm, điện quang
Băn khoăn, lo lắng nhưng tôi nhất quyết ra đi…
Tất cả những thứ cần thiết nhất cho công việc mổ xẻ được ô tô mau chóng chở khỏi Hà Nội. Còn tài sản riêng tư thì xếp gọn trên một chiếc xe tay. Tôi cùng vợ con và gia đình anh Tôn Thất Tùng rời thành phố, theo dòng người tản cư cuồn cuộn chảy về các miền quê. Đêm 19-12-1946, đứng ngoài hiên lạnh một ngôi nhà dân ở Vân Đình, nhìn về phía Hà Nội, chúng tôi bỗng thấy ánh lửa cháy sáng rực chân ười, lắng nghe tiếng súng vọng rền không dứt.
– Thế là cuộc kháng chiến đã bùng nổ ! – anh Tùng khẽ thốt lên.
Lúc đó chúng tôi có ngờ đâu mình rồi sẽ trải qua con đường kháng chiến dài hàng chục nghìn cầy số, lâu tới hơn ba nghìn ngày.
Chúng tôi dã lựa chọn con đường gian nguy ấy, dã lựa chọn theo lương tâm mình và theo lời kêu gọi thiêng liêng của giang sơn vạn cổ, từ Bạch Đằng, Chi Lăng vọng về trong tiếng nói đanh thép hôm nay của Bác Hồ : “Chúng ta thà hi sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nưóc, nhất định không chịu làm nô lệ”.
Đêm hôm ấy, bên ánh đèn dầu lắt lay vì gió bấc, tôi ghi vội mấy dòng cảm xúc : “Nếu như có một cuộc đời mà mỗi phút giây trôi qua đều có ý nghĩa nhân lên nghìn lần, mỗi chúng ta đều yêu thương đến say đắm và thèm sống đến mấy lần cuộc sống ấy vẫn chưa thấy đủ… Phải, nếu quả có một cuộc đời như thế,
Dù cuộc đời đó chỉ dành cho con cháu chúng ta mai sau, ta cũng sẵn sàng hiến dâng cả đời chấp nhận mọi hi sinh, mất mát. Những ai đã từng sổng kiếp dọa dày, tủi nhục trong đêm dài nô lệ, hay ít ra cũng đã trải qua những năm tháng nhọc nhằn, day dứt vì lương tâm, nhẫn phẩm, ắt sẽ lao theo cơn lốc cách mạng một khi ánh lửa của nó đã rọi sáng tâm hồn…”.
Cho đến hôm nay, tôi vẫn còn như thấy rõ ánh lửa ấy, ánh lửa rực sáng phía chân trời Hà Nội trong cái đêm 19, đêm đầu tiên của cuộc kháng chiến trường kì.
(Còn nữa)

SK và ĐS năm 1996

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *