Việc giáo dục nâng cao sức khỏe vệ sinh phòng bệnh

Sở tài chính vật giá trích kinh phí đặt mua tuần báo sức khỏe và đời sống cho 156 trạm y tế phường, xã, thị trấn trong toàn tỉnh

Chăm lo sức khỏe cho nhân dân, một khâu quan trọng cho việc giáo dục nâng cao sức khỏe vệ sinh phòng bệnh trong ăn, mặc. ở ; hương dẫn dùng thuốc, khám chữa bệnh, sinh đẻ và nuôi con V.V..

Do nội dung của thư gần gũi với đời sống sức khỏe nhấn đến của báo sức khỏe và đời sống, ngày 16 tháng 12 năm 1995, Bưu điện tình Gia Lai đã có công văn số 180/BC gửi Giám đốc sở y tế Gia Lai như sau:

*Năm 1096 sở tài chính quyết định trích kinh.phí cho việc mua cho 156 trạm y tế phường, trạm xá trong toàn tỉnh, mỗi kỳ một tờ báo Súc khỏe và đời sống (từ ngày 1-1-1996 đến ngày 31-12-1996), Bưu điện tỉnh Gia Lai xin thông báo đến (Song chỉ Giám đốc sở để phối hợp tổ chức  các trạm y,tế xã, phường, thị trấn sử dụng và phát biểu báo sức khỏe và đời sống đạt kết quả tốt.

PV- SK và ĐS năm 1996
Chống chiến tranh

Được thành lập sau chiến tranh thế giới quỹ viện trợ’ chống chiến tranh nhằm khắc phục hậu quả chiến tranh gây ra đói nghèo, bệnh tật – hậu quả do chiến tranh gây ra. Nhưng thực tế đã ngược lại với lòng mong rnuốn của bao người- chiến tranh đã không kết thúc, các cuộc xung đột chém giết lớn nhỏ vẫn liên tiếp xảy ra.

Hậu quả của chiến tranh đối với trẻ
Kể từ năm 1945-1992. 142 cuộc chiến trên thế giới đã giết hại 23 triệu người : trẻ em và phụ nữ là nhóm dân cư phải chịu hậu quả nặng nề nhất. Chỉ tính riêng tronq thập kỷ vừa qua, ước tinh có lới 2 triệu trẻ bị chết; 4 – 5 triệu em bị thương ; 12 triệu em bị tàn phế ; trên 1 triệu em bơ vơ không có gia đình và 10 triệu em bị chấn thương tâm lý vì chiến tranh.

Hầu hết những cuộc chiến hiện nay là nội chiến do vậy ranh giới giữa những .người chiến đấu và không dhtến đấu không rõ ràng. Trẻ nhỏ và gia dinh không chỉ bị kẹt giũa các làn đạn, mà còn là những mục tiêu đặc biệt

Đối với các em trai, trong các cuộc chiến kéo dái, các em được coi là nguồn lính cố giá tri, thậm chí tốt hơn cả lính là người lớn bởi “tinh trẻ con* dễ bị dọa cho sợ,’báo sao làm vậy ; có khả năng chạy trốn và không đòi phải trả lương. Các em hoặc bị ,ép vào lính, hay do chán chường và thất vọng nên chọn con đường đánh nhau để trốn chạy cuộc đời. Cuộc dời bính nghiệp đã khiến những lính trẻ con* này trở nên hung dứ đến mức sau đó các em không còn con đường nào để đi ngược lại nữa.

Trong chiến tranh, các trẻ em gái luôn bị de dọa bởi bạo lực tình dục.Ở Bosnia va Berzegovina, Crochta và Rwanda, sự cưỡng hiếp được coi là một sách lược để làm mới tinh thần của cộng đồng và như một hình thức “thanh lọc sắc tộc”.

Chiến tranh buộc bao người phải rời quê hương. Các cuộc chạy loạn đã làm nhiều em bị lạc, hay mồ côi trong cơn hoảng loạn. Ngựời ta thấy, trong các cuộc xung đột, số người chết do, bị đói và thiêu, dịch vụ y tế, vì căng thẳng do chạy trốn nhiều gấp 20 lần so với người chết do vũ khí.

Một thảm kịch nữa của chiến tranh, thậm chí tồn tại khi hòa bình lập lại là sự đe dọa triền miên của mìn mặt đất. Hiện nay tại 64 nưởc còn khoảng 110 triệu quả mìn chôn trong đất. Trẻ em do tò mò và nhiều khi đi chăn trâu cắt cò, chơi đùa đâm phải hoặc tường đồ chơi, nhặt
lên nên hay bị sát thương nhiều nhất.

PV- SK và ĐS năm 1996

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *