Đại Thanh

Có nơi gọi là chàm nhuộm, chàm lá M to, mã lam, đại nam. chàm mèo.

Tên khoa học là Strobilanthes cusia (Nees) O.Kuntze thuộc họ ôrô Acanthaceae. Lá cây sống lâu năm, cao từ 40-80 cm. Thân nhẵn, phân nhánh nhiều, phình lên ở các mấu. Lá mọc đôi, hình bầu dục .hay tinh trùng. đầu nhọn, mép khía răng tròn. Hoa máu lam tim hay tim hồng, mọc so le hay mọc đôi ở kẽ lá. Tràng hoa hơi cong hình trụ ngàn hẹp ớ phần dưới, phía trên loe ra xe 5 thùy hình trứng. Quả nhẵn, hẹp dài. Mùa hoa qua từ tháng 12 đến tháng 2 nàm sau. Bộ phận dùng làm dược liệu gồm cả cây hay chỉ lấy lá, thu hái vào mùa hè thu. phơi khô hay chế bột

Thành phần hóa học: lá đại thanh chứa 0 4-1 ,3% indicân Khi thủỵ phấn indican cho indoxyl và glucoza. Khi bị oxy hóa indoxyl cho indigotin

Theo y học có truyền, bột đại thanh có màu xanh lam vị đậm nhạt, tính mát, có tác dụng thanh nhiệt tán uất, lượng huyết, giải độc, trị nhiệt độc.

Chữa viêm lợi. răng, chảy máu chân răng:

Thanh đại (80g), phèn chua (40g), hùng hoảng (29), mai hoa, bảng phiên (2g). Tất cả tán bột trộn đểu, đựng trong lọ kín. Trước khi dúng, rửa sạch ráng miệng bằng nước muối hay nước oxy già; bôi thuốc vào chồ lợi bị viêm nhiễm Ngậm thuốc độ 15-20 phứt rói nhố đi, sức miệng, ngày bôi 2-3 lần, sau bữa ăn. Thường sau 5-7 ngày có kết quả.

Chữa viêm hạnh nhân, viêm họng. Thanh đại (5g) hàn the (5g), tây ngưu hoàng (1g), mai hoa, bàng phiến (0.5g). Tất ca tán bột, trộn đều khi dùng súc miệng sạch, bôi vào chỗ sưng đau.

Chùa cam tẩu mã. Thanh đại (20g). hoàng bá (I2g). hoáng liên (16g), đinh hương (12g), đại hói (4g), nhân trung bạch (20g), phèn chua (12g). Các vị hoàng ỉiẻn, hoàng bá, đinh hương, đại hồi sấy khô, tán nhỏ nỗi trộn với nhản tmng bạch, phèn chua vả thanh đại. Nếu bệnh nặng cần thêm (1g) xạ hương (vì xạ hương chóng bay hơi nên chi trộn vào trước khi dùng). Lấy bông thấm nước muối rửa sạch máu mủ chỗ ràng lợi bị đau. rồi đắp thuốc đầy vào chỗ răng lợi bị thủng. Người lớn ngày đắp thuốc 3-4 lần, cách 3 giờ thay thuốc một lần. Trẻ con trước khi đi ngủ đắp thuốc một lần. ban đèm dậy đắp thuốc lần nửa.

Chữa rong kinh: Dùng viên thanh đai .chứa 0,25g cao khô lá đại thanh. Mỗi ngày uống 10 viên chia 2 lần. uống liên tục 10 ngày trước lúc bắt đầu có kinh nguyệt 5 ngày Uống nhắc lại như vậy vào tháng thứ 2. thứ 3 hoặc lầu hơn, cho tới khi kinh nguyệt trớ lại bình thường thì ngừng uống thuốc. Nếu tiếp tục uống kéo dài kinh nguyệt có thể bị chậm lai quá mức bình thường

Chú ý: Phụ nữ muốn sinh nở hoặc có thai không nên dùng vì có thể làm sẩy thai ớ giai đoạn sớm (thời kỳ đầu của thai nghén).

SK và ĐS năm 1996

Thuốc y học cổ truyền cũng là con dao hai lưỡi

Xu hướng chung hiện nay sử dụng ngày càng nhiều và rộng rãi thuốc y học cổ truyền (YHCT).

Nhiều người quan niệm rằng thuốc YHCT an toàn tuyệt đối; rằng thuốc YHCT không gây độc hại, chỉ có lợi mà thôi… Quan niệm đó hoàn toàn sai lầm. Trong YHCT cũng có những vị thuốc rất độc như’ hoàng nan. mã tiến, thạch tín… chúng độc đến mức, Khi sử dụng, các thầy thuốc giấu kinh nghiệm vẫn phải hết sức thận trọng vì dùng sai có thể gây nên chết người ngay tức khắc. Nhìn chung. đã là thuốc. kể cả tân dược và thuốc YHCT bao giờ cũng là con dao hai lưỡí: chỉ định và chống chỉ định. Nếu chỉ định đúng thì khỏi bệnh, chỉ định sai không những không khỏi bệnh mà còn làm cho bệnh thêm trầm trọng, thậm chí gây chết người.

Ngay cả những vị thuốc được xem là bổ như nhung hươu, tam thất, nhân sâm… sử dụng không dùng cũng gây ra hậu quả tai hại. Nhiều khi chỉ vì dùng thuốc bổ mà người đang khỏe mạnh lại trở thành người bệnh. Các bệnh do dùng sai thuốc gây ra được gọi là bệnh y sinh.

Có người tưởng lầm rằng, thuốc YHCT dễ sử dụng, thật ra. sử dụng chính xác là việc làm rất khó Muốn sử dụng đúng đắn thuốc YHCT phải nắm vững lý luận YHCT. Mà lý thuyết YHCT có tính khái quát hóa cao, tập trung vào các hội chứng. Lý luận YHCT nằm trong các học thuyết ‘Âm-Dương”, “Ngũ hành”, “Bát cương”, ‘Tứ chẩn”, ‘Bát pháp”…

Không ít người, kế cả một số thầy thuốc do không nắm vững lý luận, chỉ định sai đã gây ra những hậu quả tai hại, thậm chí gây chết người.

Như trên đã nói, lý thuyết YHCT có tính khái quát, ở đây chỉ xin nêu một vài ý cơ bản.

Trong lý luận YHCT thì “Âm – Dương” là cặp khái niệm quan trọng hơn cả, nó chi phối mọi khái niệm khác: “Đại phàm đã chửa bệnh là phải nói đến âm – dương vi âm dương là ban thể cúa tiêu thiên, tà chủ cua khí huyết. Nói đến khi huyết cũng là nói đến âm – dương; nóí đến hàn * nhiệt cũng là nói đến âm – dương vi hàn thuộc về âm, nhiệt thuộc về dương; khí thuộc về dương, huyết thuộc về âm”.

Trong cơ thế con người luôn luôn tồn tại hai mặt đối lập nhau là âm và dương. Khi hai mặt có cân bằng nhau thì người khỏe mạnh; mất cân bằng âm – dưong. cơ thể sẽ bị bệnh Vì vậy chữa bệnh không có gi khác là giúp cơ thể cân bằng lại âm và dương đế rồi cơ thể tự chữa bệnh cho mình.

Âm hư thì phải bổ âm, dương hư thi phải bổ dương Làm ngược lại là chống chỉ định. Nếu cả âm, dương đều hư thì phải hư âm”, ‘ dưỡng dương”.

Ngoài âm dương ra thì hàn nhiệt cũng là khái niệm hết sức quan trọng Bệnh thuộc thổ nhiệt thi dửng các vị thuốc, bài thuốc có tính hàn. lương để điều trị; ngược lại bệnh thuộc về thế hàn thì phải dùng các vị thuốc, bài thuốc có tính nhiệt để chữa. Làm ngược lại là chống chí định (nhiệt ngộ nhiệt tấc cuồng; hàn ngộ hàn tấc tử)

Bệnh thực thi dùng phương pháp ta bệnh hư thì dùng phưong pháp bố. bệnh còn ở mặt ngoài cơ thể (biểu) thì dùng phương pháp hàn (ra mồ hôi), bệnh ở nứa trong thì dùng phương pháp hỏa. khi bệnh đã vào trong (lý) thì phải dùng phương pháp hạ.

Nhằm góp phần bảo vệ sức khỏe cho nhân dân, vấn đề chí định và chống chí đinh trong YHCT phải được quan tâm đúng mức, các phương tiện thông tin đại chúng cần tuyên truyền để mọi người thấy được tầm’quan trọng của việc dùng thuốc YHCT theo đúng hướng dẫn của thầy thuốc. Các bệnh viện YHCT, các khoa YHCT trong các bệnh viện phải đặc biệt coi trọng việc chống chỉ định trong YHCT, có quy chế ngăn chặn chỉ định sai trong điều trị. Các tố chức hội YHCT cần tổ chức các cuộc hội thảo về vấn đề này.

SK và ĐS năm 1996

Nạn ô nhiễm ở thành thị và căn bệnh phổi

Theo giáo sư Anthony Seaton và các cộng sự ở Đai học Aberdeen ■ trong một công trình nghiên cứu được công bố trên tạp chí ‘ Lancet’ mới đây -thì các phần tử cực nhỏ thoát ra trong quá trình vận hành của các loại động cơ đốt trong cháy bằng nhiên liêu hóa thạch truyền thống như động cơ diezen trong các công xướng hay trong các phương tiện giao thông là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến những trường hợp tử vong bởi các bệnh tim mạch và phổi ở các thành phố đông dân cư và các khu công nghiệp tập trung, đặc biệt là ở các nước có nền kinh tế và công nghiệp phát triển mạnh.

Giáo sư cho biết, thành phần chủ yếu của các hạt nhỏ này được cấu tạo từ các nguyên từ cacbon và các muối có gốc suntat, nitrat, cacbonat… đồng thời chúng nhỏ đến mức không thể nào lọc hay quét sạch được Sau khi bị thải ra bầu khí quyển, chúng cứ lơ lửng trong bầu không khí suốt nhiều ngày và có mặt ở bất cứ nơi nào có không khí, bất kể là trong nhà hay ngoài phố, trong công xướng hay ngoài công viên… hơn thế nữa, các đám mây hạt cực nhỏ đó có thể bốc lên và lan đi làm ảnh hướng tới một phạm vi rất rộng lớn. Phải sinh sống trong khu vực có mức độ ô nhiễm cao và kéo dài như vậy, người dân thành phố đã hít phải hàng triệu phân tử các chất gây ô nhiểm độc hại đó

Tuy nhiên, nghiên cứu của nhóm trên còn cho thấy các đám-mây bụi công nghiệp bao gồm những hạt lớn hơn và nặng hơn nhiều do đó không tồn tại lâu trong không khí và ít nguy hiểm hơn cho con người. Vì thế công nhân trong nhà máy tuy phải chiu nồng độ bụi rất cao song vì các bụi có kích thước lớn hơn nên họ không bị nguy hiểm như những người dân ở trong nhà hít phải những hạt bụi rất nhỏ từ các động cơ diezen phát ra. Những tế bào có chức năng bảo vệ hệ thông miễn dịch của cơ thể con người bị tràn ngâp bới các phần tử độc hại cực nhỏ đó và gây ra phản ứng hóa học làm suy giảm sức đề kháng của cơ thể và rất dễ bị viêm nhiễm Điều nguy hai là nó làm tăng tỷ lệ mắc bệnh phổi và bệnh tim mạch, nhất là lao phổi và một số bệnh về đường hô hấp cũng như bệnh về mắt. Các nhà nghiên cứu nói trên đá thông kê ở 14 thành phô lớn được coi là bị ô nhiễm nhất trên thế giới cho thấy tỷ lệ mắc bệnh phổi tăng trung bình 19,8% so với 14 thành phố đối chứng khác. Đặc biệt lả ở Bangkok (Thái Lan) – một hành phố không phải là đông dân nhất nhưng được coi là thành phố có nạn ô nhiễm hàng đầu thì tỷ lệ đó là 26%

BS HOÀNG HÀ ĐHY ở Bắc Thai (Theo Johns Hopkms)

SK và ĐS năm 1996

Những ngày tiêm chủng toàn quốc ở Quảng Ninh

Vòng II Chiến dịch những ngày tiêm chủng toàn quốc ở Quảng Ninh

Quảng Ninh là tỉnh địa hình phức tạp có 178 xã, thì có 108 là xã miền núi, hải đảo giao thông đi lại khó khăn. Để có thể đảm bảo tiến độ tiêm chủng chung, các cháu ở các xã miền núi, vùng sâu vùng xa được tổ chức uống sớm hơn thời gian qui định. Sáng 14-12 tất cả các điếm còn lại đã đồng loạt triển khai, vòng I toàn tỉnh đạt tỉ lệ cho uống vacxin bại liệt là 101%. Nhưng không vì thế mà các công tác chuấn bị cho vòng II bị lơi lỏng. Gần sát vòng II, UBND tính có công điện nhắc nhở các cấp dưới. Trung tâm VSPD tỉnh đảm bảo cung cấp đủ vacxin và đã cho các điểm tiêm. Tại thành phố Hạ Long, ngoài các điểm tiêm chủng trên đất liền, thành phô tô chức các. đội lưu động đến các thuyền chài, cho con em các ngư dân uống vacxin bai liệt và vita-min A. Tại đây có nhiều cháu vãng lai từ Hải Phòng, Quảng Nam-Đà Nắng theo thuyền của bố mẹ ra làm ăn hoặc đi chơi ở Quảng Ninh cũng đã được uống vacxin. Năm nay việc dùng bình sữa cho các cháu uống chiều nước sau khi uống vacxin, thay cho thìa cốc. cũng như ống nhỏ vacxin được cai tiên mềm hơn đã giúp nhân viên y tế cho các cháu uống được nhanh, gọn, chính xác hơn Bởi vậy đến 11 h giờ sáng 14-12-96 toàn tỉnh đã đạt trên 90% các cháu trong diện đưọc uống vacxin bại liệt và vitamin A.

SK và Đs năm 1996

Nhớ lại phong trào chiến sĩ vệ sinh

GS.TỪ GIẤY

Ngày 23/9/1945, cuộc kháng chiến ở Nam Bộ bắt đầu. Bộ đội và một phấn nhản dân phái rời thành thị về sống, hoạt động kháng chiến ờ nông thôn và vùng rừng núi.

Bệnh sốt rét cướp đi nhiều sinh mạng của quân, dân Nam Bộ và các chiến sĩ trong đoàn đã quân Nam tiến. Hồi đó mọi người hầu như đểu chưa hiểu nguyên nhân gây bệnh sốt rét là muỗi độc anophen Ai cũng cho sốt rét là tại nước. Tên gọi phổ biến của căn bệnh nay thời đó là “sốt rét ngã nước ‘.

Trình độ văn hóa. hiếu biết về khoa học cua dân ta hồi ấy rất thấp. Kiến thức về phòng bệnh giữ sức khỏe, về cách ăn uống hợp lý, về phương pháp nuôi con theo khoa học. hạn ché tình trạng suy dinh dưỡng và nạn chết yểu đều chưa được phổ biến rộng rãi. Số thầy thuốc lại hiếm, cả nước có khoảng 100 bác sĩ, hoạt động tập trung ở các thành phố lớn và các tỉnh lỵ. Trong bối cảnh đó. chỉ có một cách là phố biến kiến thức về vệ sinh, phòng bệnh, vân động toàn quân vả toàn dân sống theo nếp sống lảnh mạnh, àn sạch, uống sạch, ở sạch, vận động mọi người nằm màn. phòng muỗi đốt, phòng các bệnh đường tiêu hóa. thương hàn, lỏng lỵ và gia tăng cải thiện bữa ăn.

Các thầy thuốc đầu ngành ở Bộ y tế và ở Cục Quân y lúc đó đều thống nhất là phải có một tờ báo để phố biến kiến thức vệ sinh phòng bệnh, trước hết là phòng bệnh sốt rét, Tháng 6/1946, số đầu tiên của báo Vui sống ra đời. Tờ báo không những tuyên truyền, phổ biến kiến thức, thông tin khoa học về vệ sinh phòng bệnh, mà còn đăng tải những chỉ thị quan trọng về phòng bệnh giữ gìn sức khỏe, đặc biệt là chỉ thị về chống sốt rét và cải thiện ăn uống, 12 điều kỷ luật vệ sinh.

Bộ Tổng tham mưu thời đó đã có một chỉ thị kịp thời về tổ chức, ớ các cấp đều thành lập uỷ ban bảo vệ sức khỏe gồm đại diện chính trị, tham mưu, quân y và quản nhu để phối hợp các hoạt động quân sự và bảo đảm ăn mặc, phòng bệnh, ở mỗi tiểu đội đều có một chiến sĩ vệ sinh.

Chiến sĩ vệ sinh vẫn làm nhiệm vụ tập luyện, chiến đấu như các chiến sĩ khác trong tiểu đội, nhưng được học tập thêm về vệ sinh phòng bệnh, băng bó cấp cứu và có thêm 3 việc:

– Phải gương mẫu tôn trọng các kỷ luật vệ sinh. Ví dụ. kỷ luật đóng quân đề ra không được phóng uế bậy thì chiến sĩ vệ sinh bất cú trong trường hợp nào cũng gương mẫu đào hố mèo và lấp kín phản sau khi phóng uế.

– Ngoài việc gương mau, người chiến sĩ vệ sinh còn có nhiệm vụ động viên, thuyết phục anh em trong tiêu đội cùng làm như mình, cùng theo đúng phép vệ sinh như mình.

– ở ngoài mặt trận khi đồng đội bị thương nhiều và có lệnh của cấp chí huy, chiến sĩ vệ sinh sẽ băng bó cho anh em chiến sĩ bị thương.

Chiến sĩ vệ sinh mỗi tuần được miễn lao động 2 giờ để đi họp và rút kinh nghiệm về hoạt động phòng bệnh*. Học được gì hay. chiến sĩ vệ sinh giảng giải lại cho mọi người nghe vả tổ chức thực hiện. Ví dụ như mặc quần, áo dài buổi tối, ngủ màn phòng muôi đốt sẽ tránh được sốt rét.

Mỗi khi trong đơn vị có tân binh bổ sung, chiến sĩ vệ sinh bao giờ cũng đi sát và giảng giải các điều thường thức về vệ sinh, đế anh em tân binh quen với sinh hoạt vệ sinh ở bộ đội.

Phong trào chiến sĩ vệ sinh hoạt động rất thiết thực và hiệu quả. Không chỉ đóng khung trong vấn đề phòng bệnh, các chiên sĩ vệ sinh còn là nòng cốt trong vấn đề tăng gia để có thêm thực phấm bổ sung vào bữa ăn. Các chiến sĩ vệ sinh ớ đai đội còn là ‘ nòng cốt của phong trào văn nghệ, bẳt đầu bằng các câu ca dao, hò vè để tuyên truyền vệ sinh, rồi mở rộng ra thành các sinh hoạt văn nghệ và đời sống, lôi cuốn cả cơ quan dân chính, Đảng và nhân dân vùng đóng quân cũng thành lập các tổ Vui Sống và phối hợp hoạt động tổng vệ sinh làng xã, giữ gìn nguồn nước sạch, chăm sóc trè em, tăng gia cải thiện, hoạt động văn nghệ tạo ra một không khí sinh hoạt lành mạnh, vui sống trong điều kiện kháng chiến có nhiều khó khăn gian khổ.

Chiến sĩ vệ sinh còn là nòng cốt của phong trào xây dựng nếp sống vui tươi lành mạnh thời kháng chiến, một thời chiến đấu hào hùng, gian khổ nhưng tràn đầy khi thế lạc quan cách mạng, tin tưởng là tương lai, yêu đời, vui sống.

SK và ĐS năm 1996

Giải pháp duy nhất cho y tế học đường P2

thế hệ trẻ hỏm nay và [ực lượng lao động khỏe về thể chất, có trí tuệ, thông minh để đáp ứng nhu cầu hiện đại hóa, công nghiệp hóa đất nước…” BHYT cả nước nói chung và BHYT Vĩnh Phú nói riêng đã, đang và sẽ củng cố tiếp tục phát triển, đẩy mạnh công tác y tê học đường trong các trường học. Năm học 1995-1996 chương trình nước sạch đã được khôi phục, đầu tư quỹ BHYT cho gần 100 trường học trong toàn tỉnh. Xây dựng tủ thuốc sơ cứu nhà trường cho 100% sô trường có số học sinh tham gia BHYT. Khám sức khỏe cho các em ngay tại trường với hàng nghìn lượt học sinh… Vĩnh Phú có nhũng trường hoàn toàn tự chủ trong công tác y tế học đường với sự giúp đỡ đầu tư trở lại của BHYT tỉnh. Mô hình đó phải kể đến các trường phổ thông tiểu học Gia Cẩm, Thọ Sơn, Tiên Cát, Chính Nghĩa… (thành phố Việt Tri); Trường chuyên cấp II Thanh Ba, Trường phổ thông trung học chuyên Hùng Vương, Trường PTTH Việt Trì và các trường thuộc thị xã Phú Thọ.v.v… ớ các trường này không còn hiện tượng học sinh chẳng may rủi ro, ốm đau, bệnh tật mà phải bỏ học. Các em được sơ cúu ngay tại nhà trường. Tôi thiết nghĩ tất cả các trường học có được y tế học đường như hôm nay phải ghi nhận tấm lòng, ý thức trách nhiệm và suy nghĩ đúng đắn của các phụ huynh học sinh. Chỉ trong năm học vừa qua BHYT và ngành giáo dục đào tạo Vĩnh Phú đã khôi phục YTHĐ cho 200 trường học trong toàn tỉnh.

Trong năm học 1966-1997, YTHĐ sẽ được tiếp tục đẩy mạnh, nhằm nâng cao chất lượng các tủ thuốc nhà trường; tặng thẻ BHYT nhân đạo cho học sinh có hõàn cảnh khó khàn; cải tạo hệ thống bình lọc nước sạch trong các nhà trường có phong trào tham gia BHYT tốt. Nghiên cứu xây dựng nha học đường ở các cụm trường có số đỏng học sinh tham gia BHYT. Tuy nhiên BHYT cần có sự kết hợp chật chẽ của ngành giáo dục đào tạo cần có sự chi đạo của chính quyền các cấp, sự hiếu biết thấu đáo của thầy, cô giáo cũng như nhận thức cùa cha mẹ học sinh. Các trường muôn khỏi phục YTHĐ để chăm sóc sức khỏe cho các em được tốt và làm yên lòng các bậc phụ huynh học sinh, không còn cách nào khác phải tuyên truyền, giải thích, vận động phụ huynh học sinh để số lượng học sinh tham gia BHYT ngày một nhiều hơn.

SK và ĐS năm 1996

Giải pháp duy nhất cho y tế học đường

Điều mong muốn và cũng là mục đích tôn chỉ của Bảo hiểm y tế (BHYT) là dần dần khôi phục lại ỵ tế học đường (YTHĐ) và duy trì nó trong các trường học – Điều mà ngành giáo dục đào tạo dường như đô không đủ điều kiện “quan tâm ” trong nhiều năm qua.

Từ những điều bất tỉện:

Chỉ cách đây 3-4 năm, tôi còn thấy các em học sinh tới trường ngoài cái cặp, hay túi sách vở mỗi em còn đem theo một bình đựng nước. Hình thức cũng đẹp và cũng rất tiện lợi. Nhưng với các em học sinh còn nhỏ tuổi thì thật vất vả. Đến lớp, cái ngăn bàn vốn chật hẹp với đồ dùng học tập, nay lại phải dành một khoảng không nhỏ để cho những cái lọ lỉnh kỉnh đó. Thật là một gánh nặng khi tay xách cặp, nách cắp cái chai nước, một tay là lọ mực – nêu phải phiên trực nhật thì còn phải kèm thèm cái chổi.

Tới hậu quả:

Các em học sinh trước khi có phong trào mang nước uống đôi khi còn nhớ bình nước, chai nước hơn cả sách vở. Giờ ra chơi thì ngồi giữ nhũng cái chai lọ đó. Còn những em không đem lọ, chai, thi sao? Chúng xô đẩy chen nhau đến một cái bể hoặc một cái giêng của gia đình nào gần đó. Rồi thì điều chẳng cha mẹ nào muốn sẽ xảy ra: xích mích, nói tục, gây gố đánh nhau… sứt đầu, mẻ trán, gãy tay, gãy chân:.. khóc lóc bò cà buổi học, hay vào muộn giờ. Lúc bấy giờ ở các trường học không có một cuôn bỏng, một vièn thuốc, một lọ dầu… hoặc có chút ít do Hội chữ thập đỏ cung cấp. Ngày nay kinh tế mọi gia đình phát triển theo nhịp sống của xã hội vả tiến bộ nền kinh tế đất nước, cái điều tôi thấy đã hầu như không còn nữa, thay vào đó là những hàng quán với đủ các loại nước hấp dẫn trong chai, lọ thủy tinh… Tuy nhiên ai dám khẳng định đó là những loại nước hợp vệ sính đạt tiêu chuẩn. Còn các bậc cha mẹ hàng ngày lại phài lo cho con em mình một số tiền để mua nước uống, mà thật ra họ cũng khó kiểm soát nổi những đồng tiền đó được sử dụng như thế nào?

Và đến giải pháp:

Nhằm củng cố mạng lưới YTHĐ mà chính là khôi phục ỷ thức, nề nếp của học sinh, chăm sóc sức khỏe cho các em ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhả trường. Một giải pháp duy nhất, đúng đắn, hợp thời nhất vả cũng rất cần thiết là đẩy mạnh công tác BH YT cho học sinh. BHYT lả tổ chức Nhà nước quản lý hoàn toàn mang tính chất nhân đạo và hoạt động xã hội như lời Thứ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo – Giáo sư Trần Xuân Nhĩ đã khẳng định: “… hình thức BHYT học sính này không mang tính chất kinh doanh, vì lợi nhuận. Mà nó thể hiện tính nhân đạo cộng đồng vì sức khỏe

SK và ĐS năm 1996

Làm thế nào để trẻ lại

I-A-NUS Ô-XIN-CA (Ba Lan)

Từ thời xa xưa, con người đã mơ ước được trẻ mãi.

Các nhà luyện đơn đi tìm các linh đơn. Các cụ già chịu các phẫu thuật phức tạp và nguy hiểm, những người khác sẵn sàng bán linh hồn cho quỷ dử.

Cách đây mấy hôm, tôi đã gọi I điện cho cơ quan làm trẻ lại. Tôi I muốn biết tôi có còn trẻ không.

Sau đây là cuộc đối thoại đã diễn ra:

– Tôi muốn biết ở tuổi nào thì I được coi là trẻ…

– Chúng tôi không có các tiêu chí chính xác.

– Tiêu chí gần đúng có khỏng?

– Anh bao nhiêu tuổi?

– Chẳng hạn nếu tôi 20 tuổi thì I có phải là trẻ không?

– Tất nhiên.

– Nếu 30 tuổi?

– Có thể coi là trẻ.

– Còn nếu 60 thì sao?

– 60 à? Tất nhiên là không rồi.

– 50?

– Không.

– 40 ?

Ị * Có lẽ không.

– Sao lại có lẽ? Thế có nghĩa là còn mập mờ à. Anh không thể nói dứt khoát được à?

– Không, nếu đã 40 thì anh không còn trẻ nữa.

– Còn nếu 38?

– Anh 38 ả?

– Điều đó không quan trọng đối với tôí. Nói chung là tôi quan tâm .. À mà, 38 thì là trẻ. còn 40 thì không à. Có 2 năm mà quan trọng thế kia à?

– Quan trọng chứ!

– Các anh xác định tuổi theo cách nào?

– Theo giấy khai sinh.

– Thế anh không biết câu thành ngử “Trông mặt đặt tuổi” à?

• Chúng tói không làm việc theo tục ngữ.

– Nhưng các anh không thể xác định được tuối chính xác.

Tôi treo máy. Thuyết tương đối thật đáng ghét! 30 cái cây thì lả rừng, còn 15 cái cây thì chỉ là bụi rậm. Nếu tỏr ăn cắp của cơ quan một trăm nghìn đồng thì đó là chuyện vặt, còn nếu tôi lấy cắp 10 triệu thì đó là ăn cắp, là tham nhũng.

Nhưng gần đây, tôi đã hiếu cách .làm cho mình trẻ lại. Trong cửa hàng dành cho thanh niên, tôi đã nhìn thấy một ông đúng tuổi muốn mua cái chăn. Cô bán hàng bảo rằng của hàng chỉ bán cho các chú rể trẻ. ông liền lén lút giúi vào túi cô một ít tiền và đã mua được cái chăn đó.

ôi, giờ thì tói dã hiểu ra cách làm cho mình được trẻ lại!

TUẤN THANH dịch

SK và ĐS năm 1996

Biên bản kết luận

BIẼN BÁN KẾT LUẬN CỦA cuộc HỌP Mở RỘNG HỘI ĐỒNG KHOA HỌC KỸ THUẬT VIÊM MẮT

Thời gian: Khai mạc lúc 13h30 ngày 4 tháng 12 năm 1996

Địa điểm: Tại phòng khách, Viện mắt, 85 BàTriệu, Hà Nội

I.Thành phần dự họp gồm có:

– Các uỷ viên chính thức củạ Hội đồng:

1. GS. Cù Nhân Nại, Phó Viện trưởng Viện Mất – Chủ tịch Hội đồng Khoa học Kỹ thuật Viện Mắt.

2. PGS.PTS Tôn Thị Kim Thanh. Viện trưởng Viện Mắt – Chủ nhiệm Bộ môn Mắt trường Đại học Y khoa Hà Nội.

3. PGS.Nguyễn Duy Tân, Trướng khoa Mắt Hột – Giác mạc, Viện Mắt

4. PGS.PTS.Lê Hoàng Mai, Trương phòng Nghiên cứu Khoa học, Viện Mẳt

5. BS.Lã Huy Biển, Trưởng khoa Glôcôm – Tổng hợp, Viện Mắt

6. PTS.Trần Nguyệt Thanh, Phó trưởng khoa Giôcôm – Tổng hợp, Viện Mắt

7. PTS.Trương Tuyết Trinh, Phó trường khoa Glôcôm – Tống hợp, Viện Mắt

8. PTS.Nguyễn Văn Dũng, Phó trưởng phòng Nghiên cứu Khoa học, Viện Mắt

9. PGS.PTS.Đinh Thị Khánh Phó trưởng Khoa Mắt Hột – Giác mạc, Viện Mắt

10. Nghiên cứu viên chính (NCVC) Hoàng Hồ, Trưởng khoa Thãm dò chức năng Mắt, Viện Mắt

– Các thành viên mời:

1. GS.Nguyễn Trọng Nhân, Chủ tịch Hội nhãn khoa việt Nam

2. GS.Phan Đức Khám, chuyên viên đầu ngành Mắt Quân đội, Phó chủ tịch Hội nhãn khoa Việt Nam

3. GS.Hà Huy Tiến, uỷ viên BCH Hội Nhãn khoa Việt Nam

4. PGS.Nguyễn Duy Hòa.

Chủ tọa: GS.Cù Nhẫn Nại, Chủ tịch Hội đổng Khoa học Kỹ thuật Viện Mất

Tổ thư ký:

1. PGS.Lê Hoàng Mai

2. PTS.Nguyến Vản Dũng

Qua nghiên cứu hồ sơ bệnh án và các tài liệu liên quan, Hội đồng đã xem xét thảo luận. Sau phán thảo luận của Hội đổng, Chủ tọa phát biểu ý kiến kết luận:

1. Hội đáng nhất trí chẩn đoán lúc vào viện và chẩn doán ở khoa Glôoôm-Tổng hợp là đúng.

2. Về chỉ định điều trị. phương pháp” phẫu thuật, thuốc, liều lượng đưòng tiêm cạnh nhãn cẩu là đúng.

3. Phẫu thuật khâu lại kết mạc, nắp mạc không gây lên mắt thị lực.

4. Nguyên nhân gây mù mất của bệnh nhân Nguyễn Tiến Khê chưa được khẳng định chắc chắn vì chưa làm được bệnh lý giải phẫu, nhưng dựa vào những dữ kiện thu thập được thì có 2 khả năng nhu sau:

Khả năng thứ nhất; Do mũi tiêm xuyên qua thành nhãn cầu làm tăng áp lực nội nhãn gây tuột chỉ, phòi mống mắt, phù nề tổ chức nội nhân, đục thủy tinh thể nhanh và thuốc ngắm vào làm nhiễm độc thị thần kinh dẫn đến mù.

Ká quả về siêu âm: tiền phòng nông, dịch kính vẩn đục, có một lớp màng mỏng phía sau thủy tinh thể và đám tổ chức liên kết khá rộng (âm vang yếu) tập trung về phía dưới. Võng mạc ở khu vục phia dưới (gần đường xích đạo) tách khỏi thành nhãn cầu tạo nên hình ảnh bong võng mạc dẹt chiều ngang khoảng 2,5mm, chiều cất dọc gần 6mm các lóp màng phía sau dày lên (27/7/96).

Kết quả điện vòng mạc; 2 mắt điện võng mạc tiêu hủy hoàn toàn.

Khả năng thứ hai; tắc đôi tĩnh mạch trục ly tâm võng mạc là do thuốc tíêm và kỹ thuật tiêm không đúng gây co thắt, tấc động mạch trung tâm vòng mạc đưa đến thiếụ mấu cục bộ dẫn đến mất thị lực.

Biểu quyết:

Số thành viên tham gia biểu quyết là 14 người:

– Đồng ý với khả*năng thứ nhất: 14/14 (đạt 100%)

* Đồng ý vói khả năng thứ hai: 9/14 (đạt 64,3%)

(Tức là có 9 thành viên cho cả 2 khá năng đều tồn tại)

Các thành viên của cuộc họp đã ký vào biên bản do PGS.PTS Lê Hoàng Mai ghi.

Biên bản này đã được thông qua toàn thể các thành viên của hợi đồng hồi 17h ngày 4/12/96.

Kết thúc vào I7h ngày 4/12/96.

Thư ký

PQS.PTS.LÔ Hoàng Mai (đã ký) Chủ tọa

_ GS. Cù Nhân Nại (đã ký)

SK và ĐS năm 1996

Trúng số độc đắc

II. Trúng số độc đắc vì có vợ ở nông thôn

Trong tay bác sĩ Huy Phan đã có năm thương binh. Anh nên chữa cho ai trước? Chọn người nhẹ nhất ư? Anh này còn nguyên hai hòn tinh hoàn. Viên đạn quái ác chỉ tiện đứt mát hai phần ba, còn để lại trên cơ thẻ anh một đầu mẩu, nếu anh tìm cách nối hoặc lấp thêm một đoạn nữa vào chắc chắn sẽ dễ dàng hơn tái tạo hoàn toàn cái mới.

Đúng lúc các nhả khoa học cũng tham gia nghiên cứu “Công trình C” lính ngả theo phương án dễ “ăn” nhất là có ỷ kiến nêu:

Anh thương binh này còn trẻ quá. chưa có vợ. Nếu “Công trình C thành công, cậu ta lấy đâu ra đối tượng đế thực nghiệm?

Đã đành rằng ở Viện quân y 108 và nhiều bệnh viện khác có “người” phụ nữ bằng cao su, khi bơm càng trông giống như người thật thường dùng cho các chảng trai vô sinh thử độ phóng tinh trùng nhưng khó có thể kết luận là anh có thể có con được nên nhiều người đã ngãng ra. Vảo thời điểm này, bác sĩ Huy Phan tập hợp những đề xuất của các bạn đồng nghiệp, đã chọn hướng đi của minh. Anh đã có cách tạo ra một duơng vật mới. Tất nhiên, anh chưa đề cập tới cấu tạo ở bên trong mà chỉ đơn thuần nói về hình thức bèn ngoài. Theo kế hoạch anh sẽ lạng một mảng da bụng pua thương binh theo kích thước dự kiến ban đầu là 0,25 X 0,15 cm. Anh sẽ cuộn tâm da đó thành một cái đục trỏng giống hỉnh một con đía lớn. Sau ít ngày, anh sẽ cắt một đầu cùa “con đỉa” cấy lẻn mu bản tay. Đúng thời điếm cho phép, anh sẽ cắt rời đầu thứ hai của “con đỉa” đế cấy đúng chỗ dương vật bị cụt. Khi cái trục da đã được nuôi sống, anh sẽ cất rời đầu thứ nhất của “con đỉa” khỏi mu bàn tay. Đến giai đoạn này, anh đã tạo nên được cái trụ bằng da tự thân thay cho dương vật, “mọc” đúng chỗ quy định. Việc còn lại là phải nghĩ cách ‘nhồi” cái gì vào bên trong giúp cho

SK và ĐS năm 1996